Viết tặng nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu.
luongthephiet | 09 March, 2010 13:48
Hát xẩm
Cụ Hà Thị cầu
Câu nghe như cấu như cào
Câu như mảnh vỡ rạch vào nhân gian
Câu thì nắng xối mưa chan
Câu đem trong đục hoà tan cõi người
Bên anh đàn nhị rã rời
Bên em trống phách rối bời kêu đau
Rút từ gan ruột nát nhàu
Bà tôi chắp lại thành câu xẩm buồn
Chết thì bó chiếu mà chôn
Đồng chinh xấp ngửa gọi hồn xác xao
Tiếng đau như cấu như cào
Hồn cha ông những tác tao một thời
Bây giờ từng tiếng xẩm rơi
Vẫn như xa xót kiếp người quanh ta.
Cụ Hà Thị cầu Câu nghe như cấu như cào
Câu như mảnh vỡ rạch vào nhân gian
Câu thì nắng xối mưa chan
Câu đem trong đục hoà tan cõi người
Bên anh đàn nhị rã rời
Bên em trống phách rối bời kêu đau
Rút từ gan ruột nát nhàu
Bà tôi chắp lại thành câu xẩm buồn
Chết thì bó chiếu mà chôn
Đồng chinh xấp ngửa gọi hồn xác xao
Tiếng đau như cấu như cào
Hồn cha ông những tác tao một thời
Bây giờ từng tiếng xẩm rơi
Vẫn như xa xót kiếp người quanh ta.
GóP ý
cảm nhận
Đức Tiên | 09/03/2010, 15:30
Tiếng đau như cấu như cào
Hồn cha ông những tác tao một thời
--------------------
Một tứ thơ hay chúc mừng bạn !
Hồn cha ông những tác tao một thời
--------------------
Một tứ thơ hay chúc mừng bạn !
Re: Viết tặng nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu.
Người làng Vân Tra | 09/03/2010, 16:44
Để một số các bạn có thể chưa hiểu nhiều về loại hình dân ca độc đáo chỉ có ở Miền bắc nước ta. Lương Thế Phiệt xin pots lên đây những nét cơ bản về xuất xứ, nghệ thuật, nhạc cụ... của nghệ thuật hát xẩm như sau: (nguồn lấy từ google)
Nguồn gốc
Theo truyền thuyết, đời nhà Trần, vua cha Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Do tranh giành quyền lực nên Trần Quốc Đĩnh bị Trần Quốc Toán hãm hại, chọc mù mắt rồi đem bỏ giữa rừng sâu. Tỉnh dậy, hai mắt mù loà nên Trần Quốc Đĩnh chỉ biết than khóc rồi thiếp đi. Trong mơ bụt hiện ra dạy cho ông cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa. Tỉnh dậy, ông mò mẫm làm cây đàn và thật lạ kỳ, cây đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung, vua vời ông vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung. Người dân lấy ngày 22 tháng 2 và 22 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ của ông. Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã lập ra một giải thưởng mang tên Trần Quốc Đĩnh nhằm tôn vinh, hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà sưu tầm, nghiên cứu, nhà báo có công lao, đóng góp cho lĩnh vực âm nhạc truyền thống và trao giải lần đầu tiên năm 2008.
Theo chính sử thì vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán. Thái tử con vua Thánh Tông tên là Khảm, sau lên ngôi là vua Nhân Tông; một người con nữa là Tả Thiên vương. Vì vậy nguồn gốc hát xẩm là dựa trên thánh tích chứ không truy được ra trong chính sử.
Theo chính sử thì vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán. Thái tử con vua Thánh Tông tên là Khảm, sau lên ngôi là vua Nhân Tông; một người con nữa là Tả Thiên vương. Vì vậy nguồn gốc hát xẩm là dựa trên thánh tích chứ không truy được ra trong chính sử.
Nhạc cụ
Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát xẩm chỉ gồm đàn nhị và sênh. Nhóm hát xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnh và phách bàn. Có tài liệu cho rằng đàn bầu khởi thuỷ là nhạc cụ đặc trưng của hát xẩm, sau do đàn nhị dễ chơi hơn và có âm lượng tốt hơn (phù hợp với chỗ đông người) nên thường được sử dụng. Để thay cho đàn nhị truyền thống, có thể dùng đàn gáo. Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm. Sênh dùng đệm nhịp cho hát xẩm có thể là sênh sứa (gồm hai thanh tre hoặc gỗ) hoặc sênh tiền (có gắn thêm những đồng tiền kim loại để tạo âm thanh xúc xắc). Ngoài ra, đàn đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng có thể hiện diện trong hát xẩm.
Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát xẩm chỉ gồm đàn nhị và sênh. Nhóm hát xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnh và phách bàn. Có tài liệu cho rằng đàn bầu khởi thuỷ là nhạc cụ đặc trưng của hát xẩm, sau do đàn nhị dễ chơi hơn và có âm lượng tốt hơn (phù hợp với chỗ đông người) nên thường được sử dụng. Để thay cho đàn nhị truyền thống, có thể dùng đàn gáo. Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm. Sênh dùng đệm nhịp cho hát xẩm có thể là sênh sứa (gồm hai thanh tre hoặc gỗ) hoặc sênh tiền (có gắn thêm những đồng tiền kim loại để tạo âm thanh xúc xắc). Ngoài ra, đàn đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng có thể hiện diện trong hát xẩm.
Phân loại và làn điệu
Xẩm có hai làn điệu chính là xẩm chợ và xẩm cô đào. "Hát xẩm chợ, điệu hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng đưa hơi đều hát nổi tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay nhị với sênh phách; còn hát xẩm cô đào thì điệu hát dịu dàng hơn, những tiếng đệm và tiếng đưa hơi lẫn vào lời chính, cốt giúp cho có nhiều dư âm và bắt khúc được dễ dàng. Hát xẩm cô đào đệm đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và nhị.". Ngoài ra xẩm còn sử dụng nhiều làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ khác như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo,... hoặc ngâm thơ các điệu bồng mạc, sa mạc. Các làn điệu dân ca khác khi được dùng trong hát xẩm đã được "xẩm hoá" theo phong cách đặc trưng của xẩm. Trên thực tế, cách gọi tên các loại xẩm không phải theo làn điệu mà theo một số tiêu thức khác:
• Tên bài xẩm nổi tiếng: xẩm thập ân (theo tên bài xẩm ca ngợi công đức của cha mẹ), xẩm anh Khoá (theo tên bài thơ được hát theo điệu xẩm Tiễn chân anh Khoá xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải)...
• Theo mục đích, nội dung bài xẩm: xẩm dân vận (được chính quyền khuyến khích sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng)...
• Theo môi trường biểu diễn: ngoài xẩm chợ và xẩm cô đầu (hay còn gọi là xẩm nhả tơ, xẩm ba bậc, xẩm nhà trò, xẩm huê tình) sau này còn có một dòng xẩm của Hà Nội gọi là xẩm tàu điện thường được hát trên tàu điện.
• Miền Trung và miền Nam cũng có thể loại hát xẩm tuy khác ngoài Bắc. Xẩm miền Trung lấy bài bản từ ca Huế trong khi mền Nam gọi là "nói thơ" chẳng hạn như "nói thơ Lục Vân Tiên".
Xẩm có hai làn điệu chính là xẩm chợ và xẩm cô đào. "Hát xẩm chợ, điệu hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng đưa hơi đều hát nổi tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay nhị với sênh phách; còn hát xẩm cô đào thì điệu hát dịu dàng hơn, những tiếng đệm và tiếng đưa hơi lẫn vào lời chính, cốt giúp cho có nhiều dư âm và bắt khúc được dễ dàng. Hát xẩm cô đào đệm đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và nhị.". Ngoài ra xẩm còn sử dụng nhiều làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ khác như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo,... hoặc ngâm thơ các điệu bồng mạc, sa mạc. Các làn điệu dân ca khác khi được dùng trong hát xẩm đã được "xẩm hoá" theo phong cách đặc trưng của xẩm. Trên thực tế, cách gọi tên các loại xẩm không phải theo làn điệu mà theo một số tiêu thức khác:
• Tên bài xẩm nổi tiếng: xẩm thập ân (theo tên bài xẩm ca ngợi công đức của cha mẹ), xẩm anh Khoá (theo tên bài thơ được hát theo điệu xẩm Tiễn chân anh Khoá xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải)...
• Theo mục đích, nội dung bài xẩm: xẩm dân vận (được chính quyền khuyến khích sáng tác để tuyên truyền, vận động quần chúng)...
• Theo môi trường biểu diễn: ngoài xẩm chợ và xẩm cô đầu (hay còn gọi là xẩm nhả tơ, xẩm ba bậc, xẩm nhà trò, xẩm huê tình) sau này còn có một dòng xẩm của Hà Nội gọi là xẩm tàu điện thường được hát trên tàu điện.
• Miền Trung và miền Nam cũng có thể loại hát xẩm tuy khác ngoài Bắc. Xẩm miền Trung lấy bài bản từ ca Huế trong khi mền Nam gọi là "nói thơ" chẳng hạn như "nói thơ Lục Vân Tiên".
Ca từ
Ca từ của xẩm chủ yếu là thơ lục bát, lục bát biến thể có thêm các tiếng láy, tiếng đệm cho phù hợp với làn điệu. Nội dung của các bài xẩm có thể mang tính tự sự như than thân trách phận; nêu gương các anh hùng, liệt sỹ hay châm biếm những thói hư, tật xấu... hoặc trữ tình. Những bài thơ thường được diễn ca trong hát xẩm: thơ Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính...
Ca từ của xẩm chủ yếu là thơ lục bát, lục bát biến thể có thêm các tiếng láy, tiếng đệm cho phù hợp với làn điệu. Nội dung của các bài xẩm có thể mang tính tự sự như than thân trách phận; nêu gương các anh hùng, liệt sỹ hay châm biếm những thói hư, tật xấu... hoặc trữ tình. Những bài thơ thường được diễn ca trong hát xẩm: thơ Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính...
* Nghệ nhân Hà Thị Cầu hiện nay là người hát xẩm chợ cuối cùng ở nước ta với đúng nghĩa của cả nghề và nghệ thuật người làng Quảng Phúc, huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình. Sang năm canh dần này cụ vừa tròn 93 tuổi. Tuy nhiên cụ được coi là "tài sản "quý của bộ môn hát xẩm của nước ta nhưng cuộc sống của cụ hiện tại còn rất nghèo khổ??? Hiện tại đạo diễn phim Lương Đình Dũng đang cho quay bộ phim có nhan đề "Xẩm Đỏ" nói về cuộc đời nghệ nhân Hà Thị Cầu với 92 năm tuổi đời và 84 năm tuổi nghề. Hi vọng trong năm con hổ này chúng ta sẽ được xem bộ phim này.Mong các bạn tìm hiểu thêm. Xin cảm ơn.
PHẠM HỒNG VINH - 27 tháng 4, 2011
Hát xẩm
1.
Đã lâu lắm rồi tôi không còn thấy họ ,những người tàn tật hát rong.Người Việt mình gọi là hát xẩm. Một gánh hát xẩm chỉ một đến ba người,với nhạc cụ cầm tay là cái nhị,cái đàn tranh hoặc cây sáo trúc, có người thì dùng đồ sịn, có người tự chế.Sau ngày hòa bình có gánh xẩm hát nhạc đỏ thì họ chơi ghi ta và thêm cái loa sắt. Xẩm nghèo chỉ có hai cái thìa nhôm để dập phách
Các cụ kể rằng, khi sinh ra đã thấy hát xẩm, xẩm có từ bao giờ cũng không ai biết .thông thường hát chèo,quan họ ,tuồng,cải lương, ả đào đều có đất diễn riêng như sân đình ngày hội hoặc hát trong rạp có sân khấu , diễn viên được mặc đẹp ,trang điểm cẩn thận…Còn như gánh xẩm thì ngược lại họ thường là những người đui mù què sứt cặp cạ với nhau, lương tựa vào nhau mang tiếng đàn, lời ca đi khắp nơi tha phương cầu thực .Hành trang họ mang theo ngoài cây nhạc cụ là cái gậy đễ dò dẫm đi đường, cái bị rách đủ đế đựng đồ cho gánh hát,và một cái đấu gỗ cũ kỹ dùng để xin tiền.
Chợ phiên ở làng cứ năm ngày,bẩy ngày lại đến phiên họp chợ ,xẩm vừa đi vừa hát vừa xin tiền có người thương xẩm hoặc yêu tích hát của xẩm mà cho vài xu. Cho nhiều cho ít xẩm dừng lại hát một đoạn để cảm tạ. Ngày thường xẩm thường lên thành phố hoặc ở các bến tàu, bến xe hát cho khách đi đường quên thời gian chờ đợi.Chỗ nào đông người thì xẩm mò tới.
Xẩm hát hay lắm, mặc dù đui mù nhưng xẩm thường có chất giọng đặc biệt. Một chất giọng đi vào lòng người êm ái ,du dương, xẩm thường hát những tích kể về cuộc đời khốn khó của mình để làm động lòng người nghe .Xẩm có thể hát các tích chèo như tấm cám, tống chân cúc hoa,phạm tải ngọc hoa, lưu bình dưng lễ…Có thể xẩm hát quan họ Bắc Ninh với các tích qua cầu gió bay,người ơi người ỏ đừng về... Xẩm thuộc hàng trăm bài hát đủ các thể loại, tích nào xẩm hát cũng rất hay. Không chỉ chất giọng mà lời ca xẩm hát gần gũi với các số phận đời thường.bởi vậy khi nhàn rỗi ai cũng thích nghe xẩm hát, có tiền cũng được, không có tiền cũng được nghe. Thích nghe tích gì xẩm hát cho nghe.
Tôi tò mò hỏi làm sao xẩm thuộc nhiều bài thế, thì ra muốn làm xẩm phải có năng khiếu ca hát và học thầy xẩm. Thầy xẩm là xẩm hoắc liền anh liền chị trong nghề hát.tất nhiên học phải mất tiền.có khi xẩm đi hành nghề vài tháng mới trả được tiền học.Thầy thương xẩm tàn tật thầy dậy dỗ đến nơi đến chốn . Khi ra hành nghề xẩm không bị ai chê trách bao giờ.xẩm hiền lành không tranh, không đua. Đi đường gặp mặt xẩm chào nhau ,nhường nhau chỗ làm việc như người một nhà. Xẩm nghèo lắm nhưng không xin bao giờ ,xẩm chỉ bán rẻ lời ca tiến hát cho dân mình nghe .Dân mình ai cũng thương xẩm ,có bé nào nghịch chêu xẩm là bị người lớn mắng ngay.
Ngày xưa những người tàn tật, số phận hẩm hưu nhưng họ đã vượt lên chí mình ,nhờ họ mà những câu hát dân gian mới lưu truyền đến ngày nay. Trải qua bao thời gian lịch sử hình ảnh những gánh xẩm vẫn còn đọng lại trong trí ức. Xẩm đã hoàn thiện sứ mệnh lịch sử của mình,lúp bóng trong câu ca xưa,trong văn hóa dân gian của người việt.Tưởng nhớ đến xẩm tôi khắc hình ảnh của một đôi vợ chồng mù hát xẩm bên góc chợ lúc rạng đông,để hình ảnh của họ tồn tại vĩnh cửu với thời gian.
Hà đông ngày 20/4/2011
vinhcoba
PHẠM HỒNG VINH - 27 tháng 4, 2011
Hát xẩm
1.
Đã lâu lắm rồi tôi không còn thấy họ ,những người tàn tật hát rong.Người Việt mình gọi là hát xẩm. Một gánh hát xẩm chỉ một đến ba người,với nhạc cụ cầm tay là cái nhị,cái đàn tranh hoặc cây sáo trúc, có người thì dùng đồ sịn, có người tự chế.Sau ngày hòa bình có gánh xẩm hát nhạc đỏ thì họ chơi ghi ta và thêm cái loa sắt. Xẩm nghèo chỉ có hai cái thìa nhôm để dập phách
Các cụ kể rằng, khi sinh ra đã thấy hát xẩm, xẩm có từ bao giờ cũng không ai biết .thông thường hát chèo,quan họ ,tuồng,cải lương, ả đào đều có đất diễn riêng như sân đình ngày hội hoặc hát trong rạp có sân khấu , diễn viên được mặc đẹp ,trang điểm cẩn thận…Còn như gánh xẩm thì ngược lại họ thường là những người đui mù què sứt cặp cạ với nhau, lương tựa vào nhau mang tiếng đàn, lời ca đi khắp nơi tha phương cầu thực .Hành trang họ mang theo ngoài cây nhạc cụ là cái gậy đễ dò dẫm đi đường, cái bị rách đủ đế đựng đồ cho gánh hát,và một cái đấu gỗ cũ kỹ dùng để xin tiền.
Chợ phiên ở làng cứ năm ngày,bẩy ngày lại đến phiên họp chợ ,xẩm vừa đi vừa hát vừa xin tiền có người thương xẩm hoặc yêu tích hát của xẩm mà cho vài xu. Cho nhiều cho ít xẩm dừng lại hát một đoạn để cảm tạ. Ngày thường xẩm thường lên thành phố hoặc ở các bến tàu, bến xe hát cho khách đi đường quên thời gian chờ đợi.Chỗ nào đông người thì xẩm mò tới.
Xẩm hát hay lắm, mặc dù đui mù nhưng xẩm thường có chất giọng đặc biệt. Một chất giọng đi vào lòng người êm ái ,du dương, xẩm thường hát những tích kể về cuộc đời khốn khó của mình để làm động lòng người nghe .Xẩm có thể hát các tích chèo như tấm cám, tống chân cúc hoa,phạm tải ngọc hoa, lưu bình dưng lễ…Có thể xẩm hát quan họ Bắc Ninh với các tích qua cầu gió bay,người ơi người ỏ đừng về... Xẩm thuộc hàng trăm bài hát đủ các thể loại, tích nào xẩm hát cũng rất hay. Không chỉ chất giọng mà lời ca xẩm hát gần gũi với các số phận đời thường.bởi vậy khi nhàn rỗi ai cũng thích nghe xẩm hát, có tiền cũng được, không có tiền cũng được nghe. Thích nghe tích gì xẩm hát cho nghe.
Tôi tò mò hỏi làm sao xẩm thuộc nhiều bài thế, thì ra muốn làm xẩm phải có năng khiếu ca hát và học thầy xẩm. Thầy xẩm là xẩm hoắc liền anh liền chị trong nghề hát.tất nhiên học phải mất tiền.có khi xẩm đi hành nghề vài tháng mới trả được tiền học.Thầy thương xẩm tàn tật thầy dậy dỗ đến nơi đến chốn . Khi ra hành nghề xẩm không bị ai chê trách bao giờ.xẩm hiền lành không tranh, không đua. Đi đường gặp mặt xẩm chào nhau ,nhường nhau chỗ làm việc như người một nhà. Xẩm nghèo lắm nhưng không xin bao giờ ,xẩm chỉ bán rẻ lời ca tiến hát cho dân mình nghe .Dân mình ai cũng thương xẩm ,có bé nào nghịch chêu xẩm là bị người lớn mắng ngay.
Ngày xưa những người tàn tật, số phận hẩm hưu nhưng họ đã vượt lên chí mình ,nhờ họ mà những câu hát dân gian mới lưu truyền đến ngày nay. Trải qua bao thời gian lịch sử hình ảnh những gánh xẩm vẫn còn đọng lại trong trí ức. Xẩm đã hoàn thiện sứ mệnh lịch sử của mình,lúp bóng trong câu ca xưa,trong văn hóa dân gian của người việt.Tưởng nhớ đến xẩm tôi khắc hình ảnh của một đôi vợ chồng mù hát xẩm bên góc chợ lúc rạng đông,để hình ảnh của họ tồn tại vĩnh cửu với thời gian.
Hà đông ngày 20/4/2011
vinhcoba




GóP ý (69) |
Trackbacks (0) |
Bản in
0 nhận xét:
Đăng nhận xét